Chương 7: Con trâu tên Mốc
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Ở đình đã đông người. Ông Hiển đến từ sớm, cùng mấy ông trong ban khánh tiết, ai cũng mặc áo the, khăn xếp, vì hôm nay làm lễ xin tháo trống. Mâm xôi gà, đĩa trầu cau đặt trên án. Hương đã thắp. Anh Quý đứng ở sân, mặt sạm lại. Anh đã sang gian nhà ngang lúc sáng, đã thấy tấm da nứt.
Ông Hiển nghe anh Quý nói xong thì đỏ mặt, chỉ tay vào tôi.
"Da xưởng anh để hỏng. Ngày lành tháng tốt chọn rồi, lễ dâng rồi, không lùi được. Cứ tháo da cũ ra. Tuần sau có da mới thì bịt."
Anh Quý không cãi. Anh quay sang tôi, giọng mệt:
"Mày làm đi. Nhổ một vòng đinh trước cho người ta xem."
Lễ khấn xong, ông Cò lật tấm vải điều. Tôi trèo lên cái ghế đẩu cạnh giá trống, cầm cái kìm nhổ đinh. Vai trái tôi buốt mỗi khi giơ tay. Tôi nhổ chiếc đinh tre đầu tiên. Rồi chiếc thứ hai. Đinh cắm sâu, chắc, phải lắc mãi mới ra, đầu đinh đen bóng như sừng.
Nhổ được chừng một gang mép, tôi lấy tay nâng nhẹ mép da lên để xem độ dày. Ánh nắng từ cửa đình lọt vào khe, soi xuống lòng tang.
Mặt trong tang trống có chữ.
Tôi ghé sát mắt vào. Ông Cò đưa cho tôi cái đèn pin. Chữ khắc bằng mũi đục, chạy dọc theo một thanh gỗ mít, nét sâu, đều, của người quen tay:
Da trâu Mốc nhà Đoàn Văn Lãm. Hai bố con lột, phơi râm bốn mươi ngày. Bịt ngày hai mươi tháng Chín năm Mậu Dần.
Bên dưới có hai chữ ký, cũng bằng mũi đục. Một chữ Lãm, nét chắc. Và một chữ Tình. Chữ T của chữ Tình, nét ngang lệch hẳn sang trái.
Tôi đứng trên ghế đẩu, tay vẫn nâng mép da, không biết bao lâu. Ông Cò ở dưới hỏi gì, tôi không nghe. Rồi tôi trèo xuống. Tôi nói với ông Hiển tôi xin nghỉ một lúc, vai tôi đau. Ông Hiển cằn nhằn nhưng cho nghỉ.
Tôi kéo ông Cò ra sau đình, ngồi dưới gốc đại. Lần này ông kể. Ông kể chậm, nhổ nước trầu xuống gốc cây sau mỗi đoạn.
Năm 1983, Tình mười lăm tuổi. Cả mùa hội nó làm trống con bán cho trẻ con, gom tiền mua một con nghé đực về nuôi. Nghé lông xám mốc, gọi là Mốc. Cụ Lãm cười bảo trâu của mày thì mày ở với nó, rồi đóng cho nó cái giường xoan, dọn ra gian nhà ngang, cạnh chuồng trâu.
Chiều nào Tình cũng dắt Mốc ra bãi ven núi. Chiều nào cụ cũng đứng giữa sân lấy trống con gõ ba tiếng một. Tâm, lưng, tang. Ba tiếng ấy là gọi về. Thằng Tình nghe thấy là dắt trâu về, con Mốc nghe thấy cũng tự quay đầu.
"Cả làng nghe nhịp ấy mười lăm năm. Trẻ con trong làng chơi trò bắt chước, gõ ba tiếng một gọi nhau về ăn cơm."
Mùa mưa năm 1998, Mốc sa xuống mương thuỷ lợi, gãy chân trước. Trâu già gãy chân thì không chữa được. Cùng năm ấy trống cái đình rách mặt, da cũ có từ thời Pháp.
Cụ Lãm quyết lấy da con Mốc bịt trống đình. Cụ bảo trâu nhà mình kêu cho cả làng nghe, thế là nó còn sống. Tình không chịu. Nó muốn chôn con Mốc ở bãi ven núi. Hai bố con cãi nhau mấy ngày. Rồi Tình cũng cầm dao.
"Hai bố con lột da, phơi dưới cây nhãn nhà ấy. Bốn mươi ngày, đêm nào cũng thay nhau ngồi trông. Bịt xong, hai bố con đánh thử. Hay lắm. Tôi đứng đây nghe, nổi da gà."
Ông Cò nhổ bãi nước trầu, im một lúc lâu.
"Thế rồi ngay tối hôm ấy, thằng Tình bảo nó đi Sài Gòn. Có thằng bạn rủ vào làm xưởng gỗ, lương gấp mười làm trống. Nó ba mươi tuổi rồi, chưa vợ, chưa có cái gì.
Cụ Lãm đứng ngay ở sân đình này, tát nó một cái. Bảo: mày bỏ nghề thì đừng có vác mặt về. Thằng Tình không nói gì. Nó đi vào đình, cầm dùi đánh lên trống cái ba tiếng một. Rồi nó đi luôn. Đêm ấy."
Tôi hỏi anh Tình mất năm nào.
Ông Cò quay sang nhìn tôi như nhìn một thằng dở người.
"Mất gì. Nó còn sống sờ sờ trong Sài Gòn. Năm nào cũng gửi tiền về cho bố mẹ. Mười lăm năm chưa về một lần. Bố nó mất, nhắn mãi không được."
Tôi ngồi im. Cái chắc chắn của tôi, cái gian buồng để nguyên của đứa con chết trẻ, sụp xuống như một tấm da bị cắt dây.
Trong đình vọng ra tiếng ông Hiển gọi tôi. Tôi đứng lên, đi vào. Tôi trèo lên ghế đẩu, nhưng không nhổ đinh. Tôi lấy búa, cắm hai chiếc đinh tre vừa nhổ trở lại đúng chỗ cũ. Ông Hiển quát. Anh Quý gọi tên tôi. Tôi cắm xong mới trèo xuống.
"Cháu không làm được. Bác thuê thợ khác."
Ông Hiển giận run người, bảo xưởng anh Quý từ nay đừng hòng nhận việc đình. Anh Quý kéo tôi ra sân, định mắng, rồi lại thôi. Anh đứng nhìn mái đình rất lâu.
Lúc tôi ra đến cổng, ông Cò chạy theo, túm tay áo tôi. Ông thở hổn hển, giọng hạ thấp:
"Từ hôm thằng Tình đi, chiều nào cụ cũng ra sân gõ ba tiếng một. Mười lăm năm. Đến tháng Chạp vừa rồi mới thôi."